Tối ưu sử dụng phân hữu cơ

29-05-2013 in Bón phân cho cây

Những năm gần đây, trên thế giới có xu thế nhấn mạnh đến một nền nông nghiệp hữu cơ. Từ ngữ nông nghiệp hữuỦ phân chuồng ở miền Bắc cơ được sử dụng như một sự tương phản đối với nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào hóa chất vô cơ.

 

Trong những thế kỷ trước đây, nông nghiệp truyền thống của các quốc gia là nông nghiệp hữu cơ, dựa vào các loại phân chuồng, phần xanh, cây cỏ tự nhiên hoai mục trong đất, đốt cây cỏ dại lấy tro than bón ruộng… Nhiều nước, như nước ta, còn sử dụng phân bắc (phân người) để bón cho lúa. Qua đó , người nông dân đã thu được những sản phẩm nông nghiệp, trước hết là lương thực, với năng suất không cao nhưng đủ nuôi sống khi dân sô còn ít, mà ruộng đất còn nhiều.

 

Khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Việt cổ đã biết làm nghề nông, trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc. Ta thường nói đến nền văn minh sông Hồng của Việt Nam từ cổ xưa, đó là một nền văn minh nông nghiệp hữu cơ trổng lúa nước. Các sách Trung Quốc đã nghi chép lại, sách Nam phương thảo mộc trạng (đầu thế kỷ thứ 4), sách Tể dân yếu thuật (thế kỷ thứ 6) đểu có ghi: “Lúa gieo mỗi năm 2 lần về mùa hè và mùa đông, đểu gọi lúa chín 2 mùa, là lúa Giao Chỉ”. Đây là lúa mùa và lúa chiêm truyền thống ở phía Bắc nước ta.

 

Nông nghiệp hữu cơ ở nước ta phát triển đến giữa thế kỷ 20, sau năm 1954 (sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp), để giúp ta khôi phục sản xuất. Liên Xô trước đây đã viện trợ cho ta 300 tấn phân đạm hóa học đầu tiên để bón lúa nhưng phân hữu cơ vẫn là chủ yếu. Năng suất lúa bình quân vẫn chỉ đạt trên dưới 2 tấn/ha. Sau năm 1968, Cách mạng xanh về cây lúa tử Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đưa vào nước ta các giống lúa mới thâm canh, thấp cây, mang gen lùn, đã mở đầu cho việc sử dụng ngày càng tăng các loại phân vô cơ, trước hết phân đạm, sau đó là phân NPK, rồi trên một phần diện tích nhỏ đã bổ sung thêm một số loại phân vi lượng.

 

Tuy nhiên, trên các ruộng lúa và cây trồng, phân hữu cơ vẫn được sử dụng tại phía Bắc và miền Trung, riêng miền Nam – đặc biệt Đổng bằng sông Cửu Long, hầu như không dùng phân hữu cơ cho lúa, nhưng có đốt rơm rạ lấy tro than bón ruộng. Đến nay, năng suất lúa bình quân ở nước ta đã đạt gần 4 tấn/ha.

 

Trong các chương trình khoa học kỹ thuật quốc gia về cây lương thực và cây thực phẩm, liên tiếp từ năm 1978 đến nay, đều chủ trương bón cho cây trồng phân hữu cơ kết hợp với phân hóa học. Các giống lúa mới thâm canh đòi hỏi điểu kiện đủ về nước và phân bón để có thể sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao. Qua đó, cần thiết có quá trinh xây dựng đồng ruộng như san phẳng mặt đất, đắp bờ vùng bờ thửa, bờ bao để phối hợp với các công trình thủy nông, tạo thuận lợi cho kỹ thuật tưới tiêu nước.

 

Tại Đồng bằng sông Hổng, những diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm do được bổ sung nguồn phân hữu cơ, nên vẫn duy trì được độ màu mỡ cho cây trồng. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, đất trổng có độ mùn cao hơn, hàng năm còn được bổ sung dinh dưỡng qua lũ lụt, nên sử dụng phân hóa học nhiều năm vẫn đạt năng suất lúa cao. Tuy vậy, nếu đất các vùng này được bón thêm phân chuồng hay phân xanh phối hợp với phân hóa học, thì chắc chắn sẽ đạt năng suất cao đột xuất, trước hết là vụ lúa đông xuân.

 

Như vậy, có thể thấy từ truyền thống nông nghiệp hữu cơ mấy ngàn năm, nông nghiệp nước ta đã chuyển sang một nền nông nghiệp hữu cơ kết hợp với các loại hóa chất vô cơ, như một sự chuyến đổi tất yếu để thích ứng với các giống cây trồng năng suất cao. đáp ứng nhu cầu dân số tăng lên nhanh chóng. Quá trình chuyển đổi này, trước hết đối với các giống lúa thâm canh, bắt đầu từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20.

 

Những năm gần đây, trước sự lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp đã kéo dài quá lâu ở  nhiều nước trên thế giới đã có một xu thế trở về cội nguồn. Nhấn mạnh đến nông nghiệp hữu cơ. Thực tế hiện nay cho thấy, kết quả của việc sử dụng lâu dài không hợp lý hóa chất đã dẫn đến tình trạng suy thoái đất trống trọt, phá hoại môi trường, gây ô nhiễm nông sản. Tuy nhiên, cần phân tích kỹ và sâu sắc tác dụng tương hỗ của các chất hữu cơ và vô cơ trong đất trồng cây lương thực và đất trống trọt nói chung.

 

Nếu chỉ nhấn mạnh một mặt chất hữu cơ hoặc một mặt chất vô cơ, thiết nghĩ đều không hợp lý. Năng suất cây lương thực là kết quả của sự biểu hiện di truyền của giống qua kết hợp với các điều kiện ngoại cảnh (ánh sáng, nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng trong đất…). Trong thời gian sinh trưởng, phần trên mặt đất của cây tiến hành tác dụng quang hợp, thoát hơi nước, hô hấp, bài tiết…; phần dưới mặt đất của cây (rễ) hút nước và các chất dinh dưỡng, tiến hành các quá trinh sinh lý.

 

Sử dụng phân hữu cơ có tác dụng rất cơ bản trong việc cải tạo đất về mặt lý hóa, tăng hàm lượng mùn, giảm được sự rửa trôi đất… Nhưng nếu muốn cung cấp cho những giống cây trồng thâm canh, có thời gian sinh trưởng ngắn, thì không thể thiếu được loại phân hóa học, đặc biệt là phân đạm với lượng cân đối NPK.

 

Phân chuồng là loại phân bón tương đối tổng hợp, bao gồm nhiều nguyên tố vi lượng, nhưng lượng đạm  chỉ 0,2-4%. Nếu bón với khối lượng lớn loại phân này, còn phụ thuộc vào đường giao thông, bờ ruộng, công cụ vận chuyển, diện tích bón, mùa mưa hay mùa khô, điều kiện tưới nước… Đối với các loại phân xanh họ đậu, các loại đậu đỗ, do nước ta đất hẹp người đông bình quân diện tích đất nông nghiệp/ đầu người rất thấp nên cần thiết phải tăng vụ đã ảnh hưởng đến việc gieo trổng cây phân xanh. Còn các loại cây đậu đỗ, tuy đã được đưa vào cơ cấu luân canh, nhưng qua các năm gần đây (1991 – 1995) diện tích cũng không phát triển được bao nhiêu. Đối với các loại đậu đỗ gieo trổng trong toàn quốc, diện tích khoảng 156.000 – 187.000 ha, đậu tương khoảng 101.000 – 121.000 ha. Tinh hình này do nhu cầu tiêu thụ trong nước và thị trường, đồng thời còn do chế độ luân canh ở các vùng khác nhau, trong đó cây họ đậu chưa được đặt vào vị tri thích đáng.

 

Gần đây, một số loại phân hữu cơ vi sinh, phân vi sinh vật đã được đưa thử nghiệm trong sản xuất. Nhưng cơ bản vẫn là phân hữu cơ kết hợp với vô cơ.

{ 0 comments… add one now }

Previous post:

Next post: